Trang

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

ISO 50004, ISO 50006 và ISO 50015 Bộ tiêu chuẩn mới về Đo lường hiệu suất năng lượng - Quản lý năng lượng



1. Giới thiệu chung:

ba tiêu chuẩn mới về quản lý năng lượng - ISO 50004, ISO 50006 ISO 50015. Mỗi tiêu chuẩn cung cấp cho bạn với các hướng dẫn về đo lường và kiểm tra hiệu suất năng lượng của tổ chức. Phát triển bởi Ủy ban kỹ thuật ISO 242, các tiêu chuẩn mới có thể giúp bạn thiết lập hệ thống của bạn cung cấp cho bạn những công cụ để đo lường hiệu suất của bạn đi về phía trước. Hãy xem các tiêu chuẩn mới:

+ Tiêu chuẩn ISO 50004, ban hành lần 1, "Hệ thống quản lý năng lượng - Hướng dẫn việc thực hiện, duy trì và cải tiến hệ thống quản lý năng lượng"

Tiêu chuẩn hướng dẫn mới này là hướng cho nhiều người sử dụng. sẽ rất hữu ích cho những người rất ít quen thuộc với các hệ thống quản lý năng lượng (E
nMS) cho những ai đang tìm kiếm cách bổ sung để cải thiện một hệ thống hiện có. Và trong khi nó dựa trên các phương pháp tiêu chuẩn ISO 50001, nó không cần thiết phải thực hiện ISO 50001 để đạt được cái nhìn sâu sắc có giá trị từ các tiêu chuẩn này.

ISO 50004 theo quy ước thông thường cung cấp cho bạn với một phạm vi, một danh sách các tài liệu tham chiếu, một ngữ cảnh mở rộng và định nghĩa. Sau đó, nó đánh giá các yêu cầu hệ thống quản lý năng lượng. Ngoài yêu cầu chung, bạn sẽ tìm hiểu về trách nhiệm quản lý, chính sách năng lượng và lập kế hoạch, thực hiện và hoạt động của một chương trình E
nMS, và mức độ khác nhau xem xét.

Ngoài ra, bạn sẽ nhận được hỗ trợ thực từ 5 Phụ lục, chi tiết dưới đây:

   
 -  Ví dụ về các chính sách năng lượng
    
-  Một ví dụ về một đánh giá năng lượng
    
-  Một ví dụ về một kế hoạch hành động
    
-  Làm thế nào để phát triển các kế hoạch đo lường
    
-  Các mối quan hệ giữa các khái niệm chính


+ Tiêu chuẩn ISO 50006, ban hành lần 1, "Hệ thống quản lý năng lượng - Đo lường hiệu suất năng lượng sử dụng đường cơ sở năng lượng (EnB) và các chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPI) - Nguyên tắc chung hướng dẫn"

Như với hầu hết các tiêu chuẩn quản lý, thiết lập hệ thống đo lường của bạn nơi đáp ứng chuẩn so sánh.
Tiêu chuẩn ISO 50006 giúp bạn trong việc này liên quan đến những thông tin về các chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPIs) và đường cơ sở năng lượng (các EnB). Họ đang sử dụng để xác định số lượng các mối quan hệ giữa việc tiêu thụ năng lượng hiệu suất năng lượng.

Một lần nữa, nó không cần thiết phải thực hiện ISO 50001 để đạt được giá trị từ tài liệu này. Tiêu chuẩn này đưa ra phương pháp luận để cung cấp cho bạn những ý tưởng, ví dụ và các bước để đo hiệu suất năng lượng bằng cách sử dụng hai chỉ số. Ủy ban lưu ý rằng mô hình thậm chí có thể được áp dụng cho từng thiết bị tiêu thụ năng lượng.

+ Tiêu chuẩn ISO 50015, ban hành lần 1, "Hệ thống quản lý năng lượng - Đo lường và xác minh hiệu suất năng lượng của các tổ chức - Nguyên tắc chung hướng dẫn"

ISO 50015 là một tiêu chuẩn tổng quan, lần này tập trung vào việc sử dụng một tập hợp các nguyên tắc chung và hướng dẫn cần thiết cho việc đo lường và xác minh hiệu suất năng lượng E
nMS của bạn. Nó tương thích với các loại năng lượng đang được sử dụng và các công cụ có thể được áp dụng cho tất cả các hoạt động của tổ chức.

Bao gồm những gì trong tiêu chuẩn này? đầu tiên chứa phạm vi thông thường, các tài liệu tham khảo và định nghĩa mệnh đề. Sau đó, nó đánh giá các khái niệm sau đây trong chiều sâu:

    
-  Nguyên tắc Đo lường xác minh M & V (Measure & Verification )
    
-  Kế hoạch M & V
    
- Thực hiện Kế hoạch M & V
    
- Tính không chắc chắn
    
- Tài liệu hóa

Một phụ lục A bao gồm tổng quan về trình tự các bước M & V. Phụ lục B cung cấp cho bạn với các ví dụ không đảm bảo cho đo lường và xác minh  và 21 mục tài liệu tham khảo kết thúc ra khỏi tài liệu.


2. Tiêu chuẩn ISO 50006 : 2014, Đo lường hiệu suất năng lượng của tổ chức.

a) Bối cảnh chung:

Mục đích của tiêu chuẩn ISO 50001 Hệ thống Quản lý năng lượng là để cho phép các tổ chức thiết lập các hệ thống và quy trình cần thiết để cải thiện hiệu suất năng lượng. Nó đòi hỏi các tổ chức áp dụng tiêu chuẩn để định lượng hiệu suất năng lượng và giám sát, đánh giá và phân tích các đặc điểm chính của nó hoạt động. Nó xác định các tính năng hoạt động như các đặc điểm quan trọng mà ảnh hưởng đến hiệu suất năng lượng của tổ chức. Ví dụ về các đặc điểm chính bao gồm việc sử dụng năng lượng đáng kể (SEU's), các biến có liên quan liên quan đến SEU's, hiệu quả của kế hoạch hành động, các chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPIs), vvv

Tiêu chuẩn quốc tế ISO 50006 : 2014 này được thiết kế cho các tổ chức đang thực hiện tiêu chuẩn ISO 50001 và hệ thống quản lý năng lượng EnMS, tập trung vào EnPIs và đường cơ sở năng lượng (EnB) ở cấp độ tổ chức. Tuy nhiên, các khái niệm và phương pháp trong tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng bởi các tổ chức mà không có một EnMS hiện có.

Ví dụ, EnPIs và EnB cũng có thể được sử dụng tại cơ sở, quá trình hoặc thiết bị, hoặc để đánh giá các hành động cải thiện hiệu suất năng lượng theo các chương trình tiết kiệm năng lượng.

b)  EnPI và EnB là yếu tố quan trọng liên quan mật thiết trong tính toán hiệu suất năng lượng trong EnMS:

Để quản lý hiệu quả hiệu suất năng lượng của các cơ sở, hệ thống, quy trình và thiết bị của họ, các tổ chức cần phải biết làm thế nào năng lượng được sử dụng và bao nhiêu được tiêu thụ theo thời gian. EnPIs và EnB là hai yếu tố quan trọng liên quan đến nhau của tiêu chuẩn ISO 50001 cho phép đo lường và quản lý hiệu suất năng lượng trong một tổ chức.

Một EnPI là một giá trị hay một biện pháp định lượng kết quả liên quan đến tiết kiệm năng lượng, sử dụng và tiêu thụ tại các cơ sở, hệ thống, quy trình và các thiết bị như là một phần hoặc toàn bộ. Các tổ chức sử dụng EnPIs như một biện pháp theo dõi hiệu suất năng lượng của nó.

Một EnB định lượng hiệu suất năng lượng trong một khoảng thời gian quy định được sử dụng như một tài liệu tham khảo cơ sở để so sánh hiệu suất năng lượng. Các EnB cho phép so sánh hiệu suất năng lượng giữa các kỳ được lựa chọn qua đó cho phép các tổ chức để đánh giá những thay đổi về hiệu suất năng lượng giữa các giai đoạn.

EnB xác định số lượng và đặc điểm hiệu suất năng lượng của một tổ chức trước khi kết quả từ hành động cải thiện hiệu suất năng lượng đã được giới thiệu.

Tổ chức xác định mục tiêu cho hiệu suất năng lượng như là một phần của quá trình lập kế hoạch năng lượng trong EnMS của họ.

Các tổ chức nên xem xét các mục tiêu hiệu suất năng lượng cụ thể khi xác định và thiết kế EnPIs và EnB. Mối quan hệ giữa EnPIs, EnB và mục tiêu năng lượng được minh họa trong Hình 1 (Bài viết trên về hiểu rõ hơn về EnPI và EnB)

Tiêu chuẩn này cung cấp cho các tổ chức hướng dẫn thực tế về cách để đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 50001 liên quan đến việc thành lập, sử dụng và duy trì EnPIs và EnB trong đo lường hiệu suất năng lượng và thay đổi hiệu suất năng lượng.

Tiêu chuẩn này bao gồm phương pháp luận được thiết kế để cung cấp cho người dùng với các ý tưởng, chiến lược và đo lường hiệu quả sử dụng năng lượng EnPIs và EnBs.

c) Để làm rõ việc đường lường hiệu suất năng lượng và giá trị tiết kiệm được hãy xem ISO 50006 cung cấp chỉ dẫn:

Để quản lý hiệu quả hiệu suất năng lượng của phương tiện, các tòa nhà của họ, và các quy trình, tổ chức phải biết bao nhiêu và trong những cách năng lượng được sử dụng bởi các hệ thống này và họ phải có khả năng quan sát các xu hướng theo thời gian. Hai khái niệm liên quan đến nhau quan trọng có thể tạo thuận lợi cho việc đo lườngquản lý hiệu suất năng lượng trong một tổ chức gồm:

+ Chỉ số Hiệu suất năng lượng (EnPI)

+ Đường Năng lượng sở (EnB)

Một
chỉ số hiệu suất năng lượng EnPI (Performance Indicator Energy) một giá trị hay một số liệu quốc gia nhằm đánh giá bao nhiêu năng lượng được tiêu thụ trong một hệ thống như một toàn thể hay một phần của cho mục đích cụ thể, hoặc có liên quan đến kết quả cụ thể dựa vào đó tổ chức mong muốn để đo lường hiệu suất năng lượng của nó .

Một đường năng lượng cơ sở EnB (Baseline Energy) định lượng bao nhiêu năng lượng đang được tiêu thụ. EnB trở thành trường hợp "kinh doanh như bình thường" cung cấp một thước đo đối với các tổ chức có thể đánh giá những thay đổi trong tương lai đối với hiệu suất năng lượng. EnB mô tả những gì một tổ chức về hiệu suất năng lượng trong trường hợp không có bất kỳ sự can thiệp ảnh hưởng thêm nào nữa trong kỳ số liệu. Một EnB có thể được sử dụng cho một hoặc nhiều EnPI.

Mục đích của tài liệu hướng dẫn này để cung cấp cho các tổ chức, bao gồm cả quản lý và nhân viên kỹ thuật, hướng dẫn thực tế về cách đáp ứng các yêu cầu của ISO 50001 Hệ thống quản lý năng lượng (EnMS) tiêu chuẩn liên quan đến việc thành lập, sử dụng và bảo trì các đường cơ sở năng lượng (EnB)
và các chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPIs) trong việc định lượng về hiệu suất năng lượng năng lượng thay đổi hiệu suất.

Tổ chức xác định mục tiêu cho hiệu suất năng lượng như là một phần của quá trình lập kế hoạch năng lượng trong EnMS của họ.

Các tổ chức nên xem xét các mục tiêu hiệu suất năng lượng cụ thể khi xác định và thiết kế EnPIs các
EnB. Mối quan hệ giữa EnPIs, EnB mục tiêu năng lượng được minh họa trong hình 4.








Trong trường hợp tổ chức đã xác định rằng các biến có liên quan như thời tiết, sản xuất, xây dựng giờ hành trình ảnh hưởng đáng kể hiệu suất năng lượng, tổ chức có thể muốn bình thường hóa các EnB để những khác biệt trong các giá trị của các biến giữa hai giai đoạn.

Tổ chức phải xác định như thế nào để định lượng hiệu suất năng lượng. Tiêu chuẩn này mô tả một số phương pháp để định lượng hiệu suất năng lượng; Tuy nhiên, đó là trách nhiệm của tổ chức để xác định cách tốt nhất để đo hiệu suất năng lượng để phục vụ các mục đích cụ thể của nó.

3. Làm thế nào đo lường hiệu suất năng lượng của Tổ chức:

Để thực hiện thành công đo lường hiệu suất năng lượng của Tổ chức đòi hỏi những nỗ lực lớn từ nhận thức, hiểu yêu cầu kỹ thuật, hiểu phương pháp luận, xây dựng các yêu tố để đo lượng hiệu suất năng lượng, thực hiện đo lượng hiệu suất năng lượng, sử dụng kết quả vì mục đích quản lý hiệu suất năng lượng, vvv. Tác giả không có ý định trình bày tất cả các bước để thực hiện theo tiêu chuẩn, tuy nhiên khái quát theo ISO 50006 có thể mô tả:


4. Đo lường hiệu suất năng lượng
4.1 Tổng quan chung
4.1.1 Năng lượng tiêu thụ
4.1.2 Năng lượng sử dụng
4.1.3 Năng lượng hiệu quả
4.1.4 Chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPIs)
4.1.5 Đường cơ sở năng lượng (EnB)
4.1.6 Thay đổi định lượng trong hiệu suất năng lượng
4.1.7 Hiệu suất năng lượng kỳ cơ sở

4.2 Lập dữ liệu thông tin hiệu suất năng lượng có liên quan từ việc xem xét năng lượng
4.2.1 Xác định ranh giới chỉ số hiệu suất năng lượng
4.2.2 Xác định và định lượng các nguồn năng lượng
4.2.3 Xác định và định lượng các biến có liên quan
4.2.4 Xác định và định lượng các yếu tố tĩnh
4.2.5 Xem xét các mục tiêu tổ chức cho hiệu suất năng lượng



4.3 Xác định các chỉ số hiệu suất năng lượng
4.3.1 Xác định người sử dụng các chỉ số hiệu suất năng lượng
4.3.2 Xác định các đặc tính hiệu suất năng lượng cụ thể được định lượng
4.3.3 Đo hiệu suất sử dụng năng lượng chỉ số hiệu suất năng lượng
4.3.3.1 Thu thập dữ liệu
4.3.3.2 Theo dõi và đo lường
4.3.3.3 Tần suất đo lường
4.3.3.4 Chất lượng dữ liệu

4.4 Thiết lập đường cơ sở năng lượng
4.4.1 Xác định một khoảng thời gian dữ liệu phù hợp
4.4.2 Thu thập dữ liệu
4.4.2.1 Theo dõi và đo lường
4.4.2.2 Tần suất dữ liệu
4.4.2.3 Chất lượng dữ liệu
4.4.3 Tính toán và kiểm tra các đường cơ sở năng lượng

4.5 Sử dụng các chỉ số hiệu suất năng lượng và đường cơ sở năng lượng
4.5.1 Thay đổi trong tính toán hiệu suất năng lượng
4.5.2 Xác định khi đường cơ sở năng lượng cần được chuẩn hóa

4.6 Duy trì và điều chỉnh các chỉ số hiệu suất năng lượng và đường cơ sở năng lượng

Bằng kinh nghiệm đánh giá nhiều hệ thống quản lý năng lượng cho khách hàng trong Bài viết “Câu hỏi của Bạn về ISO 50001” Tác giả đã đề cập những độ lệch nhất định trong việc hoạch định năng lượng và trong khuôn khổ Bài viết này xin nhấn mạnh thêm một số điểm đang là những vấn đề gây tranh cãi giữa các bên đối với EnPI & EnB khi xây dựng, áp dụng và chứng nhận EnMS theo ISO 50001 như sau:

a) Xác định EnPI&EnB (Mục 4.3 & 4.4) chưa thích hợp hoặc độ tin cậy của phương pháp luận xác định chỉ số này còn hạn chế: Trong thực tế rất nhiều khách hàng đã lựa chon hoặc được dẫn dắt lựa chọn EnPI & EnB không phản ảnh bản chất hoạt động tiêu thụ năng lượng của tổ chức, họ có thể lựa chọn theo 5 loại như sau:

  EnPI & EnB theo Giá trị năng lượng đo được (Đo giảm thiểu sử dụng tuyệt đối, tiêu thụ năng  lượng, yêu
   cầu quy định dựa trên tiết kiệm tuyệt đối)

  EnPI & EnB theo Tỷ lệ giá trị đo (Hệ thống giám sát mà chỉ có một biến có liên quan, giám sát hệ thống
    nơi có rất ít hoặc không có tải cơ sở, ví dụ: nơi có rất ít hoặc không tiêu thụ cố định)

   EnPI & EnB  là Mô hình thống kê tuyến tính hóa (Hệ thống với một số biến có liên quan, hệ thống với tải
    cơ sở tiêu thụ năng lượng)
   EnPI & EnB theo Mô hình thống kê không tuyến tính hóa (Hệ thống với một số biến có liên quan, hệ thống
    với tải cơ sở tiêu thụ năng lượng)

  EnPI & EnB là Mô hình Kỹ thuật (Phân tích hoạt động phức tạp nơi có nhiều biến ảnh hưởng, quá trình
   diễn ra nhanh hoặc các hệ thống liên quan đến nhiều tác động phức tạp

b)  Thiết lập hoặc lựa chọn đường baseline dựa trên kỳ dữ liệu không phù hợp thường là quá ngắn (4.4.1
     Xác định một khoảng thời gian dữ liệu phù hợp). Các tổ chức cần xác định một khoảng thời gian dữ liệu thích hợp trong việc xem xét bản chất của các hoạt động của nó. Tần suất mà một tổ chức chọn dữ liệu là một yếu tố quan trọng trong việc xác định một khoảng thời gian dữ liệu phù hợp. Thời gian dữ liệu cần có đủ thời gian để nắm bắt sự thay đổi trong các biến có liên quan, chẳng hạn như tính thời vụ trong sản xuất, mô hình thời tiết, vvv Thời gian dữ liệu tiêu biểu để được xem xét là:

- Một năm: thời gian phổ biến nhất của EnB là một năm, có thể do liên kết với quản lý năng lượng và mục tiêu kinh doanh, chẳng hạn như giảm tiêu thụ năng lượng so với một năm trước đó. Một năm cũng bao gồm đầy đủ các mùa và do đó có thể nắm bắt được tác động của các biến có liên quan như thời tiết về sử dụng năng lượng và tiêu thụ. Nó cũng có thể nắm bắt đầy đủ các chu kỳ hoạt động kinh doanh, nơi sản xuất có thể thay đổi trong năm do mô hình nhu cầu thị trường hàng năm.

- Ít hơn một năm: EnB thời hạn dưới một năm có thể phù hợp trong trường hợp sử dụng năng lượng và tiêu thụ đều đặn trong suốt cả năm và thời gian hoạt động ngắn hơn chụp một phạm vi hợp lý của mô hình hoạt động. Trong những trường hợp này, tỷ lệ sản xuất hàng tháng là đủ ổn định trong suốt cả năm cho phép theo dõi hàng tháng hoặc hàng quý. Khoảng thời gian ngắn EnB cũng có thể cần thiết cho các tình huống trong đó có một số lượng không đủ dữ liệu lịch sử đáng tin cậy hoặc có sẵn, hoặc khi thay đổi tổ chức, chính sách, quy trình thực hiện chỉ dữ liệu hiện tại thích hợp. Trường hợp EnB được dựa trên một khoảng thời gian ngắn của dữ liệu do thiếu dữ liệu sẵn có, có thể cần điều chỉnh.

- Hơn một năm: Yếu tố mùa vụ và kinh doanh các xu hướng có thể kết hợp để làm nhiều năm với một EnB tối ưu. Cụ thể, nhiều năm thời kỳ EnB điều chỉnh rất hữu ích cho các chu trình sản xuất tương đối ngắn hàng năm khi một doanh nghiệp sản xuất trong vài tháng mỗi năm và không hoạt động trong thời gian còn lại của năm. Ví dụ: một nhà máy rượu có thể muốn theo dõi hiệu suất năng lượng chỉ trong khoảng thời gian nghiền và lên men của mỗi năm, qua nhiều năm.

c) Tính toán sự thay đổi của hiệu suất năng lượng:

Có nhiều phương pháp để so sánh dữ liệu EnPI theo thời gian và điều quan trọng là cho một tổ chức để xác định xu hướng đó sẽ có ý nghĩa cho việc giám sát và cải thiện hoạt động của nó. Xác định EnPI kỳ cơ sở là "B" và EnPI kỳ báo cáo là "R", có ba phương pháp tính toán phổ biến để đo sự thay đổi theo thời gian của hiệu suất năng lượng là:

Ví dụ 1:  Sự khác biệt = R - B
Sự khác biệt giữa các giai đoạn cơ bản EnPI giá trị và kỳ báo cáo giá trị EnPI.

Ví dụ 2:  Phần trăm thay đổi = [(R - B) / B] x 100
Đây là sự thay đổi trong giá trị từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn báo cáo, biểu diễn bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị EnB.

Ví dụ 3: Tỉ lệ hiện tại = (R / B)
Đây là một tỷ lệ của giá trị kỳ báo cáo chia cho giá trị kỳ cơ sở.

Ngoài ra, tổ chức có thể chọn để tính toán sự thay đổi trong hiệu suất năng lượng trực tiếp hoặc trên cơ sở bình thường. Cho dù để tính toán thay đổi bằng cách so sánh trực tiếp hoặc trên cơ sở bình thường phụ thuộc một phần vào mục tiêu và mục tiêu thành lập, trong đó các khía cạnh của hiệu suất năng lượng đang được đo và làm thế nào các kết quả sẽ giúp các tổ chức để quản lý tốt hơn hiệu suất năng lượng. Trong thực tế đánh giá chứng nhận hệ thống quản lý thường thì tổ chức lựa chọn Ví dụ 1, qua đó tính toán với tổng output đầu ra để xác định tổng năng lượng tiết kiệm được so với kỳ cơ sở và với giá của năng lượng trên một đơn vị đo lường sẽ tính toán giá trị tiết kiệm bằng tiền.

d)  Không tính đến các tác động của các biến ảnh hưởng. Tổ chức có thể có một nhu cầu để xác định sự thay đổi hiệu quả từ hoạt động lựa chọn cụ thể và các điều kiện khác biệt so với các tác động của biến nhất định. Một ví dụ điển hình được xét việc xây dựng sử dụng năng lượng giữa hai thời kỳ mà nhiệt độ ngoài trời trong hai giai đoạn là khác nhau. Trong trường hợp một tổ chức muốn so sánh mức tiêu thụ năng lượng của nó giữa hai thời kỳ, có tính đến tác động của các biến, nó có thể chọn để bình thường hóa các EnB. Các tổ chức sẽ sử dụng các biến có liên quan trong câu hỏi để bình thường hóa các EnB cho phép so sánh mức tiêu thụ năng lượng giữ các giá trị của các biến có liên quan không đổi trong hai giai đoạn.

Trường hợp tổ chức có thể muốn bình thường hóa các EnB họ sử dụng các biến để có được thông tin hữu ích liên quan đến hiệu suất năng lượng có thể bao gồm các tình huống mà tiêu thụ năng lượng có tác động của các biến như:

- Nhiệt độ ngoài trời;
- Mùa vụ;
- Giờ hoạt động;
- Ca sản xuất;
- Loại nguyên liệu;
- Loại sản phẩm;
- Quy trình thay đổi;
- Số lượng sản phẩm;
- Vị trí địa lý;
- Điều kiện môi trường;
- Thiết bị sử dụng trong ca sản xuất;
- Yếu tố pháp lý.

Lời kết cho việc tính toán EnPI và EnB được trình bày trong ISO 50006 : 2014 được áp dụng trong thực tế  rất phụ thuộc vào mức độ áp dụng của tổ chức và tác giả không tham vọng đưa ra một mô hình chuẩn cho việc tính toán hiệu suất năng lượng đổi với các EnMS mà chỉ nếu ra 4 vấn để trên là những điểm yếu của Doanh nghiệp khi áp dụng dẫn đến sự không chắc chắn đối với việc đạt được hiệu lực của hệ thống quản lý năng lượng và cải tiến hiệu suất năng lượng. Nếu có thể bạn đọc điền thêm các vấn đề khác cùng quan tâm. Xin cám ơn.  

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Hiểu rõ thêm Đường cơ sở năng lượng (EnB) và Chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPI)

Có một thực tế là việc thiết lập Đường cơ sở năng lượng (EnB) và Chỉ số hiệu suất năng lượng (EnPI) đối với hệ thống quản lý năng lượng EnMS tại một số tổ chức đang có vấn đề khi so sánh hiệu quả năng lượng và cuối cùng mang lại một giá trị tiết kiệm tính bằng tiền.

Trước hết chúng ta xem yêu cầu của tiêu chuẩn:

Theo ISO 50001 : 2011

4.4.4 Đường cơ sở năng lượng

Tổ chức phải thiết lập (các) đường cơ sở năng lượng thông qua việc sử dụng thông tin từ lần xem xét năng lượng đầu tiên, có xem xét đến kỳ dữ liệu thích hợp với việc sử dụng và tiêu thụ năng lượng của tổ chức. Những thay đổi v hiệu quả năng lượng phải được đo lường theo (các) đường cơ sở năng lượng này.

Phải thực hiện các điu chỉnh đối với (các) đường cơ sở trong một hay nhiu trường hợp sau:

- Các chỉ số hiệu quả năng lượng (EnPls) không còn phản ánh việc sử dụng và tiêu thụ năng lượng của tổ chức, hoặc

- Có những thay đổi lớn đến quá trình, mô hình vận hành hay các hệ thống năng lượng, hoặc

- Theo một phương pháp xác định trước.

Phải duy trì và lập hồ sơ (các) đường cơ sở năng lượng.

 
 
                                            Hình 1: Mối liên quan đường EnB và chỉ số EnPI
 
Như vậy những yếu tố nào của EnB được nói đến trong quá trình vận hành hệ thống quản lý năng lượng ? Thực tế việc đánh giá chứng nhận/giám sát tại các Danh nghiệp nó thường bao gồm:

+ Khoảng thời gian qui định với kỳ số liệu là không thích hợp (thời gian ngắn không thể hiện tính mùa vụ, chu kỳ kinh doanh năm hoặc đặc trưng của tiêu thụ sản phẩm đầu ra, vvv), hoặc dữ liệu năng lượng tiêu thụ không được năm hóa khi tính toán.

+ Việc sử dụng biến số ảnh hưởng đến việc sử dụng hoặc tiêu thụ năng lượng là không thích hợp hoặc không phản ánh chính xác được việc tiêu thụ năng lượng xem bài viết “Câu hỏi của Bạn về ISO 50001”. Ví dụ: Khu vực làm lạnh/sấy đã không tính toán thêm yếu tố nhiệt độ ngày hoặc tính toán tiêu thụ năng lượng cho hệ thống Điều hòa trung tâm/ hệ thống Máy nén khí theo thời gian hoạt động của thiết bị (Thực tế là khi vệ sinh sạch lưới lọc tốt cho Điều hòa/Máy nén thì thời gian hoạt động của thiết bị giảm đi khi cùng làm mát một căn phòng/ duy trì cùng công suất nén nhất định.

+ Đươc dùng để Tính toán tiết kiệm năng lượng nhưng thực tế kết quả số liệu không cho phép đối chiếu được trước và sau khi thực hiện các hành động cải tiến hiệu suát năng lượng. Hoặc khi thiết lập phương pháp tính lại cho kết quả đảo ngược (nghĩa là chỉ số hiệu suất năng lượng đang tăng theo khoảng thời gian nào đó so với mục tiêu đặt ra mặc dù đã áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng)

Điều này dường như đã được nêu rõ trong các định nghĩa chung phần đầu của tiêu chuẩn, chúng ta hay xem định nghĩa của đường cơ sở năng lượng và Phụ lục A (tham khảo) dưới đây:
 
3.6 Đường cơ sở năng lượng

(Các) chuẩn định lượng làm cơ sở cho việc so sánh hiệu quả năng lượng.

CHÚ THÍCH 1: Đường cơ sở năng lượng phản ánh một khoảng thời gian quy định.

CHÚ THÍCH 2: Đường cơ sở năng lượng có thể được chuẩn hóa bằng cách sử dụng các biến số ảnh hưởng đến việc sử dụng và/hoặc tiêu thụ năng lượng, ví dụ: mức độ sản xuất, nhiệt độ theo thời gian (nhiệt độ ngoài trời), v.v…

CHÚ THÍCH 3: Đường cơ sở năng lượng cũng được sử dụng để tính toán tiết kiệm năng lượng, làm chuẩn
đối chiếu trước và sau khi thực hiện các hành động cải tiến hiệu quả năng lượng.

Phụ lục A

(tham khảo)

Hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn này

 A.4.4 Đường cơ sở năng lượng

Kỳ dữ liệu thích hợp có nghĩa là tổ chức ghi nhận các yêu cầu chế định hoặc các biến số ảnh hưởng đến việc sử dụng và tiêu thụ năng lượng. Các biến số có thể gồm thời tiết, các mùa, chu kỳ hoạt động kinh doanh và các điu kiện khác.

Đường cơ sở năng lượng được duy trì và lưu hồ sơ theo phương thức tổ chức xác định thời gian duy trì hồ sơ. Các điu chỉnh đối với đường cơ sở cũng phải được xem xét duy trì và yêu cầu này được xác định rõ trong tiêu chuẩn.

Khi được hỏi về việc làm thế nào nhận biết phải cập nhật thay đổi hoặc thiết lập lại đường cơ sở năng lượng ? Một số Tổ chức đã không nhận biết được hoặc tham chiếu đến qui định trong yêu cầu pháp luật làm chuẩn so sánh nhằm cập nhật thay đổi một cách kịp thời. Tuy nhiên rất may tiêu chuẩn đã yêu cầu tương đối rõ trong mục 4.4.4 và xem giải thích của ISO/CD 50004:2014 dưới đây:

Theo ISO/CD 50004 : 2014

4.4.4 Đường cơ sở Năng lượng
               
Đường cơ sở năng lượng là điểm khởi đầu để đo lường hiệu suất năng lượng theo thời gian. Nó được thiết lập trong một khoảng thời gian đại diện cho hoạt động của tổ chức hoặc báo cáo theo quy định của tổ chức cho phép chụp một chu kỳ hoạt động đầy đủ. Trong thời gian này, biến năng lượng liên quan được ghi nhận cho mục đích so sánh.

Các cơ sở bao gồm các dữ liệu tiêu thụ năng lượng trong một thời gian xác định, có thể được thể hiện như các chỉ số hiệu suất năng lượng.

Nếu các điều kiện cơ bản vẫn không thay đổi, so sánh được thực hiện với các giai đoạn ban đầu.

Nếu một trong các điều kiện cơ bản được thay đổi, điều chỉnh là cần thiết.

Nếu cơ sở được thiết lập bởi một tổ chức đòi hỏi phải tuân thủ các yêu cầu pháp lý, các thiết lập và điều chỉnh sẽ thực hiện theo yêu cầu của nó. Đây có thể là một ví dụ về "theo một phương pháp xác định trước".

Bài viết này chỉ nói về hiệu rõ hơn về đường EnB và chỉ số EnPI còn làm thế nào để Đo lường được xin được viết tiếp phần sau.                                                    

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nối tiếp số 3 "Viết lên dòng thời gian của quản lý năng lượng”


Làm thế nào để áp dụng hiệu lực điều 4.6.4 của ISO 50001 đối với hệ thống quản lý năng lượng của Bạn?

Khi xem xét kết quả đánh giá cấp chứng nhận hệ thống quản lý năng lượng cho khách hàng, các dữ liệu duy trì cải tiến hiệu suất năng lượng của tổ chức sau chứng nhận và các cuộc thảo luận với quản lý hàng đầu của Doanh nghiệp về phát triển bền vững thông qua sự kết hợp quản lý năng lượng với các hệ thống quản lý tích hợp khách như chất lượng và môi trường. Có một thực tế là dường như yêu cầu 4.6.4 " Sự không phù hợp, khắc phục, hành động khắc phục và hành động phòng ngừa" của ISO 50001 đã không được áp dụng có hiệu lực thay vào đó dường như khách hàng đã áp dụng đối với điều 8.5 của ISO 9001:2008 và điều 4.5.3 của ISO 14001: 2004.

Tại sao vậy?  Trước hết ta hãy nhin nhận vấn đề này như một quá trình, khi đầu vào cho các  khắc phục phòng ngừa có vẻ rõ ràng hơn ví dụ thông tin “độ lệch/sai khác so với mục tiêu” từ báo cáo không phù hợp theo điều 8.3 của ISO 9001 hoặc thông tin từ “độ lệch/sai khác so với chỉ tiêu” trong báo cáo quan trắc môi trường theo điều 4.5.1 của ISO 14001 sẽ làm rõ hơn các cơ chế khắc phục, hành động khắc phục và hành động phòng ngừa khi các vấn đề này tác động trực tiếp đến khách hàng hoặc tuân thủ pháp luật.

Thực tế là Khách hàng đã hỏi chúng tôi rằng điều 4.6.4 của ISO 50001, điều 8.5 của ISO 9001:2008 và điều 4.5.3 của ISO 14001: 2004 chỉ đưa ra cách thức và phương pháp để thực hiện các cơ chế này nhưng không chỉ rõ khi tìm kiếm các hành động khắc phục này ?

Câu trả lời là hãy xem xét vấn đề này như một quá trình điển hình (hãy xác định đầy đủ các đầu vào cho khắc phục, hành động khắc phục và hành động phòng ngừa đầu ra) theo chu trình PDCA, cụ thể là:
 
i) Một là tổ chức cần xác định các nguồn thông tin và thu thập thông tin để xác định các hành động khắc phục cần thiết. Ví dụ về các nguồn thông tin giúp cho các hành động khắc phục như:

- các phản hồi của khách hàng,
- các báo cáo về sự không phù hợp (chất lượng/môi trường/năng lượng),
- các báo cáo đánh giá nội bộ/sự tuân thủ yêu cầu pháp luật,
- kết quả của xem xét của lãnh đạo,
- kết quả phân tích dữ liệu theo dõi và đo lường (chất lượng/môi trường/năng lượng),
- kết quả đo lường sự thoả mãn các bên quan tâm, nhà cung ứng,
- các hồ sơ thực hiện hệ thống quản lý chất lượng/môi trường/năng lượng liên quan,
- con người trong tổ chức,
- đo lường quá trình (chất lượng/môi trường/năng lượng), và
- kết quả tự xem xét đánh giá.

ii) Và hai là mức độ của “độ lệch/sai khác so với mục tiêu/chỉ tiêu” đề ra và những rủi ro/tác động không mong muốn mà tổ chức có thể chụi đựng được. Hiện tại phiên bản ISO/CD 9001: 2015 và ISO/CD 14001: 2015 với cấu trúc MSS thay đổi lớn theo Annex SL, sẽ ban hành 2015 có điều khoản quản lý rủi ro 6.1 Các hành động để giải quyết nguy cơ rủi ro và tim ẩn. Điều này bao gồm cả sự không chắc chắn của các hành động khắc phục phòng ngừa chứ không chỉ nhóm yêu cầu mục 4 Bối cảnh của tổ chức trong tiêu chuẩn mới.

Để rõ hơn, Tôi hy vọng để bắt đầu một tình hướng cụ thể đối với điều 4.6.4 của tiêu chuẩn ISO 50001 và tôi đang làm một phân tích độ lệch/sai khác so với mục tiêu đặt ra về những gì được đặt ra cho khách hàng của tôi để đánh giá phạm vi công việc.

Giải thích về điều 4.6.4 " Sự không phù hợp, khắc phục, hành động khắc phục và hành động phòng ngừa" của ISO 50001 giữa các ý kiến ​​rằng đây là về sự không phù hợp từ một báo cáo " Kiểm toán nội bộ của EnMS " như sau:

Để cung cấp thông tin có hai tình hướng :

1) Trong hệ thống quản lý năng lượng EnMS, qui định của chúng ta nói rằng một báo cáo cải tiến hiệu suất năng lượng hàng tháng sẽ được phân phối cho các SEU’s, cấp lãnh đạomột tháng chúng tôi không làm như vậy.
2) Một máy nén khí được tìm thấy đang hoạt động trong tình trạng kém hiệu suất năng lượng và cần phải điều chỉnh.

Vậy trong số 2 tình hướng này sự không phù hợp trong EnMS? đòi hỏi một hành động khắc phục?  
 
Giả định là (1) và (2) được bao phủ bởi yêu cầu các tiêu chuẩn trong phần 4.6.1 " Giám sát, đo lường và phân tích ". Tôi nói rằng "Tổ chức phải điều tra và trả lời sai lệch đáng kể về hiệu suất năng lượng " .
 
Bình luận các các chuyên gia:
 
+ Chuyên gia Tư vấn quản lý năng lượng:

Tôi đồng ý với giải thích của bạn, trong trường hợp hiệu suất năng lượng của thiết bị không có độ lệch từ mục tiêu cam kết và đang thực hiện được tiếp tục theo dõi bằng cách sử dụng các công cụ đo lường và giám sát quá chênh lệch ( nếu có ) sẽ được xác nhận ở giai đoạn xem xét và hành động thích hợp bắt đầu. Nếu đây là những sai lệch so với quy định và thủ tục quản lý năng lượng của máy nén khí và phải có khắc phục không chậm trễ (đây là sự không phù hợp) và những hành động khắc phục để ngăn ngừa tái diễn dựa trên kết quả đầu ra của điều tra nguyên nhân tiếp theo.
 
+ Chuyên gia Đánh giá hệ thống quản lý năng lượng:

Tôi tin rằng bạn là chính xác trong giải thích của bạn về điều 4.6.4 .Cho hai ví dụ, có lẽ là cách quan trọng để xem xét đó là:

Bạn có thể xem (1) như một sự không phù hợp theo điều 4.2.2 (c) vì Đại diện quản lý đã không " báo cáo cho quản lý hàng đầu về hiệu suất năng lượng " như nó đã được qui định phải thực hiện trong một EnMS. Tình hướng tạo ra một theo dõi Sự không phù hợp để " sửa chữa " vấn đề này, và cuối cùng là " ngăn chặn" nó xảy ra một lần nữa!
 
Cho (2), nó có thể là một hoạt động kiểm soát vận hành (4.5.5) có vấn đề, nơi các hoạt động theo kế hoạch nhất định về thông số vận hành và các hoạt động bảo trì là không / hoặc không được thực hiện. Nhưng điều này có thể chỉ là một quan sát và cần thêm tham chiếu các thông tin, dẫn đến một sự điều chỉnh (sự không phù hợp) và hành động phòng ngừa.
 
+ Chuyên gia Kiểm toán năng lượng:

Có một số lượng tốt của cuộc thảo luận trước đây về " độ lệch đáng kể " nếu trong quá trình giám sát việc tiêu thụ năng lượng nếu người ta thấy có một độ lệch đáng kể hoặc mặt tích cực hay tiêu cực hơn so với dự đoán hoặc dự kiến ​​hơn nó phải được coi là không phù hợp và cố gắng để được điều tra. Phạm vi của các độ lệch có thể được nói + / -% 5 hoặc + / - 10% dựa trên độ chính xác của dự báo.
 
Tôi có thể cho một ví dụ thực tế của cả hai độ lệch và nguyên nhân:

Chúng tôi sử dụng để giám sát hàng ngày tiêu thụ cụ thể của quá trình tiêu thụ điện năng. Suất tiêu thụ năng lượng của chúng tôi là 2,25-2,30 kWh mỗi tấn NaOH sản xuất . Nếu con số được báo cáo là nhiều hơn hoặc ít hơn (Độ lệch) chỉ số này sau đó chúng tôi sử dụng để báo cáo, điều tra và hành động phòng ngừa tương ứng cho nguyên nhân có thể. Không có hồ sơ được duy trì như tại thời điểm đó đối với ISO 50001 đã không được sinh ra. Nếu điều tra như vậy và hồ sơ hành động khắc phục được duy trì nó sẽ giúp tránh lãng phí năng lượng trong tương lai.

Tôi cảm thấy đó là lý do tại sao EnMS muốn Bạn đánh giá thực tế so với tiêu thụ năng lượng dự kiến ​​(xem khoản 4.6.1.e) và muốn bạn duy trì các hồ sơ của nó dưới câu cuối cùng của điều khoản 4.6.1. Câu trả lời của Bạn là "Tổ chức phải điều tra và đáp ứng với độ lệch đáng kể về hiệu suất năng lượng” nhưng kết quả của những hành động khắc phục phải được duy trì cho cả tình hướng (1) và (2).

+ Chuyên gia quản lý năng lượng:
 
Xin được đi theo các thảo luận, vấn đề cần được nêu ra trong hành động khắc phục và phòng ngừa có thể được xác định thông tin từ nhiều nguồn trong EnMS, bao gồm:
 
1) kết quả kiểm toán nội bộ và bên ngoài,
2) kết quả đánh giá sự tuân thủ;
3) thất bại trong việc đạt được mục tiêu cụ thể trong quá trình giám sát và đo lường;
4) không tuân thủ các thủ tục kiểm soát hoạt động.

Cho hai ví dụ , với giả định là (1) và (2) được bao phủ bởi các tiêu chuẩn trong phần 4.6.1 " Giám sát, đo lường và phân tích " và cách quan trọng của tôi để nhìn vào đó là:
 
Đối với (1 ) như là một Sự không phù hợp khi không tuân thủ các quy định tài liệu của EnMS , tôi đồng ý với Bạn rằng trong 4.2.2 (c) vì Đại diện quản lý đã không " báo cáo quản lý hàng đầu về hiệu suất năng lượng" như nó đã được qui định trong điều 4.2.2 Đại diện lãnh đạo và " ngăn chặn" nó xảy ra một lần nữa. Nhưng giả định rằng các báo cáo Hiệu suất năng lượng được yêu cầu quy định của pháp luật chưa được phân phối cho SEU’s và cấp lãnh đạo, đây là một bằng chứng về sự không tuân thủ các yêu cầu pháp lý ( 4.6.2 ) và có hành động khắc phục và hành động phòng ngừa không chậm trễ.

Cho (2), tôi đồng ý rằng nó có thể là một vấn đề hoạt động kiểm soát ( 4.5.5 ) cần thêm thông tin kiểm chứng, nơi các hoạt động theo kế hoạch nhất định và tuân thủ các thủ tục kiểm soát hoạt động.

Nếu có thể xin gửi lời bình luận thêm !

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Câu hỏi của Bạn về ISO 50001

Vấn đề:

Cho đến thời điểm này nhiều câu hỏi được đặt ra từ  phía khách hàng là làm thế nào để xây dựng và   
vận hành một Hệ thống quản lý năng lượng có hiệu quả, cải tiến liên tục hiệu suất năng lượng của tổ chức theo ISO 500001?

Có nhiều cách lý giải được đề xuất nhưng câu trả lời chính là quay lại Hoạch định năng lượng trong  Tổ chức của Bạn  như thế nào ? Có phù hợp yêu cầu của tiêu chuẩn không ?

Nó có mang tính kết nối cam kết của Lãnh đạo trong tuân thủ các yêu cầu của luật pháp ? Nó cung cấp khuôn  khổ, các phương tiện và nguồn lực cho việc xem xét năng lượng, xây dựng đường cơ sở năng lượng ban đầu, thiết lập EnPI và xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu năng lượng của tổ chức cũng như hành động quản lý tương ứng hay không ?

Câu trả lời:

Có một thực tế là khi xem xét đánh giá một hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001 tại một số tổ chức đã áp dụng hệ thống này việc hoạch định năng lượng đã có những độ lệch nhất định khi thực hiện sau đây:

+  Tính chính xác của việc đo đếm vùng dữ liệu tính toán khi xem xét năng lượng.

+  Hoạch định năng lượng đã không bao hàm việc xem xét các hoạt động của tổ chức có thể ảnh hưởng tới hiệu suất năng lượng.

+  Xác định các tiêu chỉ lựu chọn SEU’s không phù hợp hoặc mang tính chủ quan. Ví dụ: Không thể tách riêng được một SEU’s để đo lường được trong tuyến năng lượng tổng thể của tổ chức.

+  Bỏ qua hoặc không xác định đầy đủ các yếu tố dẫn dắt chính và ảnh hưởng, ví dụ nhiệt độ ngày.

+  Xác định EnPI chưa thích hợp hoặc độ tin cậy của phương pháp xác định chỉ số này còn hạn chế.

+  Thiết lập hoặc lựa chọn đường baseline dựa trên phương pháp luận chưa thích hợp với hoạt động của tổ chức. Thường thì nó được biểu diễn bởi đường liên hệ giữa tiêu thụ năng lượng và đầu ra (Output) của tổ chức, tuy nhiên có trường hợp rất khó xác định được mối tương quan này trong thực tế áp dụng, ví dụ: Data Centre.

+  Kế hoạch đo lường và theo dõi, xác nhận các đặc trưng chính của hệ thống quản lý năng lượng chưa thiết lập đầy đủ, không rõ trách nhiệm, tần xuất và thiết bị đo lường thích hợp.

+  Bảng nhận diện các cơ hội cải tiến ngắn hạn và dài hạn chưa rõ ràng, việc tính toán mức tiết kiệm chưa đủ căn cứ.

+  Xác định các chỉ tiêu và mục tiêu năng lượng, kế hoạch hành động chưa cụ thể, không lượng hóa đầy đủ dựa trên các dữ liệu năng lượng trước đây và hiện tại hoặc các giải pháp tiết kiệm không tương xứng với của mục tiêu năng lượng đề ra.

Nếu có thể Bạn hãy điền thêm vào những dòng trên đây khi thực hiện EnMS tại tổ chức của mình. Hiện tại đã có đường link trả lời về ISO 50001 trên https://www.youtube.com/watch?v=0LZ3JztuZzw

Bình luận câu hỏi mở :

Tất cả những câu hỏi và những vấn đề cần giải đáp về ISO 50001 xin được chia sẻ. Bạn có thể truy cập trang web của tổ chức ISOonline dưới đây để gửi những câu hỏi của Bạn:
https://plus.google.com/events/csbm4oler4iifuh9lsctsu61vlg#events/csbm4oler4iifuh9lsctsu61vlg

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

ISO 50001: Công việc bận rộn hay cuộc cách mạng trong kinh doanh


Ngày càng có nhiều nhà sản xuất các sản phẩm khác nhau được bán cho các công ty, chẳng hạn khác như Walmart, Ford, Siemens, Nestle và đặc biệt tại Việt nam một số công ty đã được chứng nhận ISO 50001 như Diezel Song Cong, Samsung Electronics Vietnam, Miliket Colusa có yêu cầu hiệu suất năng lượng cho các nhà cung cấp và các nhà cung cấp của họ. Tiêu chuẩn quốc tế này đã được áp dụng một cách hiệu quả cho các doanh nghiệp để chứng minh cam kết của họ để cải tiến liên tục, như đã thể hiện bởi 25000 công ty Mỹ đã đăng ký tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001 của tổ chức ISO và Việt nam có khoảng 4779 công ty đã đăng ký tiêu chuẩn này (theo survey ISO 2011) và nhiều hơn nữa là để đáp ứng với nhu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu. Cho các tiện ích, các tiêu chuẩn mới ISO 50001 về hệ thống quản lý năng lượng cung cấp một cơ hội để thu hút khách hàng sản xuất trong tiết kiệm năng lượng đang diễn ra sáng kiến ​​mang lại lợi ích kinh doanh sử dụng cuối cùng thực tế và lợi thế cạnh tranh.

 Trong 10 năm qua, các tiện ích và khách hàng của họ đã nhận ra cơ hội đáng kể để thực hiện tiết kiệm bằng cách tích hợp hoạt động quản lý năng lượng vào mọi khía cạnh của kinh doanh của khách hàng. Nói chung, phương pháp này, được gọi là quản lý năng lượng chiến lược (SEM - Energy management strategy), có hai thành phần: một đánh giá sâu sắc về sử dụng năng lượng để xác định tiềm năng tiết kiệm từ những thay đổi trong hoạt động và bảo trì và trong hành vi, thêm vào những gì có thể đạt được thông qua việc nâng cấp thiết bị, và một cách tiếp cận về cải tiến liên tục để tiêu thụ năng lượng, sử dụng mô hình cổ điển "kế hoạch-thực hiện-kiểm tra-hành động". Tuy nhiên, trong lịch sử không có tiêu chuẩn để thực hiện quản lý năng lượng chiến lược SEM.

 Năm 2011, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã giới thiệu tiêu chuẩn ISO 50001 cho hệ thống quản lý năng lượng, áp dụng các phương pháp tiếp cận có hệ thống tương tự như trong tiêu chuẩn ISO 9001 nhưng lần này tập trung vào việc giảm tiêu thụ năng lượng. Bây giờ, lần đầu tiên, một tiêu chuẩn quốc tế kết hợp thực hành kinh doanh toàn tổ chức với một hệ thống quản lý xác định rõ ràng để dẫn đến tiết kiệm năng lượng bền vững. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, tiêu chuẩn đã thấy sự hấp thu nhanh chóng trên toàn cầu. Hiện tại, hơn 1.000 công ty trên thế giới đã được chứng nhận tiêu chuẩn ISO 50001 tại hơn 1500 địa điểm. Áp dụng tại Mỹ đang ngày càng tăng, dẫn đầu là các công ty như 3M, Bridgestone lốp, IBM, và Schneider Electric. Trong khi các nhà sản xuất là những người chấp nhận điển hình, chúng tôi cũng đã nhìn thấy xác nhận của các nhà bán lẻ, công trình công cộng, và bệnh viện.
 


Nguồn : DIN: NA 172 Normenausschuss Grundlagen des Umweltschutzes (NAGUS) - German Federal Environment Agency.

 Từ quan điểm tiện ích, khách hàng đã áp dụng tiêu chuẩn ISO 50001 họ trở thành học viên đẳng cấp thế giới của quản lý năng lượng và hoạt động, tham gia vào các đối tác trong hiệu quả năng lượng tiện ích và các chương trình quản lý đáp ứng các nhu cầu. Tiêu chuẩn ISO 50001 cung cấp các lợi ích thiết thực cho khách hàng sản xuất, giúp hỗ trợ và tăng sức cạnh tranh của họ. Mục tiêu của nhà sản xuất thường vượt hơn cấp giấy chứng nhận, và tiếp đến là tiết kiệm năng lượng và mức độ cao hơn của hoạt động. Các tiêu chuẩn ISO 50001 cơ cấu và tập trung vào hiệu suất năng lượng giúp tổ chức nhằm đạt những kết quả trong kinh doanh và hướng tới phát triển bền vững.

Các nhà sản xuất thường cho rằng thực hiện một sáng kiến ​​cấp giấy chứng nhận hệ thống như thế này có thể dẫn đến một tải gánh nặng thủ tục giấy tờ và lưu trữ hồ sơ, không có lợi ích rõ ràng. Tuy nhiên, cho đến nay tiêu chuẩn ISO 50001 đã cho thấy hứa hẹn cho lợi nhuận trên đầu tư. Phân loại thông qua thực tế và sự bắt đầu của tiêu chuẩn ISO 50001, cho thấy rằng việc áp dụng tiêu chuẩn mới này mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực của ngành công nghiệp, nhưng đặc biệt là lĩnh vực sản xuất công nghiệp.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Nối tiếp số 2 "Viết lên dòng thời gian của quản lý năng lượng"

Thế nào là một SEU's theo ISO 50001 ?

Trên một báo cáo xem xét năng lượng của một tổ chức, SEU’s đã được đề xuất dựa trên matrix lựa chọn (Tổng mức tiết kiệm; Chi phí vốn, Thời gian dự kiến ​​hoàn vốn; Độ phức tạp thiết bị & công nghệ; EHS tác động, Tác động của SEU, Tác động của Bảo trì) được đề suất như sau:

a) Sử dụng năng lượng chiếm 25% tổng số năng lượng sử dụng với một tiềm năng để tiết kiệm 3 % năng lượng khi thực hiện các cơ hội cải tiến theo báo cáo xem xét năng lượng.
 
hoặc

b) Sử dụng năng lượng chiếm 17% tổng số năng lượng sử dụng với một tiềm năng để tiết kiệm 5% năng lượng khi thực hiện các cơ hội cải thiện theo báo cáo xem xét năng lượng.

Theo Bạn trường hợp nào trên đây được coi như sử dụng năng lượng đáng kể là SEU’s ? Tại sao?


Sau đây là một số ý kiến của các bên liên quan đến cung cấp dịch vụ năng lượng:

  Nhà quản lý năng lượng hàng đầu công ty ESCO:

Tôi nghĩ rằng SEU’s nên được thiết lập dựa trên định nghĩa năng lượng đáng kể của từng tổ chức sử dụng năng lượng phù hợp với hoạt động của mình. Tôi không nghĩ rằng tiềm năng tiết kiệm năng lượng nên được bao gồm trong định nghĩa này bởi vì chúng ta đang nói về cải tiến liên tục hiệu suất năng lượng bao gồm cả việc duy trì thành tích thực hành tốt nhất đã đạt được.

 Danh sách sau đây là một mẫu của hướng dẫn sử dụng năng lượng đáng kể, Tôi sẽ sử dụng nếu tôi là một người quản lý năng lượng cho một tổ chức với qui mô kích thước trung bình / lớn:

1) thiết bị hoặc các nhóm quy định các thiết bị sử dụng năng lượng có thứ hạng đáng kể từ theo thứ tự của danh sách tiêu thụ ước tính tổng hình thành 80% tổng tiêu thụ năng lượng mục trong thể loại năng lượng sử dụng thấp hay trung bình.
2) Bất kỳ cơ sở hoặc thiết bị điện có công suất trên 10 kW.
3) Bất kỳ cơ sở hoặc thiết bị có công suất phát điện của hơn 2,5 kW với thời gian chạy hàng ngày của hơn 4 giờ.
4) Bất kỳ cơ sở hoặc thiết bị nhiên liệu tiêu thụ hoặc khí từ 2.000 / MJ ngày hoặc nhiều hơn.
5) Bất kỳ cơ sở hoặc thiết bị nước tiêu thụ 10 tấn / ngày hoặc nhiều hơn.

   Chuyên gia Tư vấn trưởng quản lý năng lượng:

 Một câu hỏi tuyệt vời! Hãy cho tôi thêm ý kiến bổ xung của nhà quản lý năng lượng ESCO. Tôi nghĩ rằng cần thêm một số khía cạnh tiềm năng đáng kể được điền vào danh sách sử dụng năng lượng đáng kể (SEU’s). Thông thường, tôi thấy rằng danh sách này của SEU có khoảng 6 đến 12 sự lựa chọn cho một danh sách này, vì vậy nếu hai SEU’s trên tạo thành 42% việc sử dụng năng lượng, sau đó Tôi sẽ có thêm vào danh sách.

Tôi đồng ý rằng tiềm năng tiết kiệm năng lượng không phải là định nghĩa của SEU’s nhưng nó được định nghĩa như là nhận diện tiềm năng cải tiến hiệu suất năng lượng của tổ chức trong quá trình xác định các SEU’s.

Trong thực tiễn triển khai EnMS, khi bạn đang xem xét việc thực hiện/ưu tiên các cơ hội tiết kiệm năng lượng của bạn vào một kế hoạch quản lý năng lượng của tổ chức, bạn nên xem xét làm thế nào bạn thực hiện được nó. Gần đây, tại một công ty sản xuất Malt Bia trong chương trình tối ưu hóa  năng lượng năng lượng của UNIDO, tôi thấy một ma trận ưu tiên đó là rất hiệu quả trong các ưu tiên của các hành động tiết kiệm năng lượng. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về điều đó, xin vui gửi cho Tôi một yêu cầu và Tôi sẽ cung cấp một số thông tin chia sẻ công khai.

   Chuyên gia đánh giá trưởng ISO 50001:

Cảm ơn các bạn, nhưng theo định nghĩa của việc sử dụng năng lượng đáng kể nêu trong ISO 50001, nó là "Việc sử dụng năng lượng có mức  tiêu thụ năng lượng cao và / hoặc đưa ra tiềm năng đáng kể để cải thiện hiệu suất năng lượng". Như vậy có nghĩa là nếu việc sử dụng năng lượng được cung cấp bởi một tiềm năng tiết kiệm đáng kể, nó có thể được coi là sử dụng năng lượng đáng kể ngay cả khi nó không chiếm nhiều trong tổng số năng lượng sử dụng năng lượng, điều đó có không ?

   Lời kết của Tôi:

 Có, bạn có quyền về việc sử dụng tiềm năng tiết kiệm như là một tiêu chí lựa chọn cho SEU's như định nghĩa của ISO 50001. Tôi đồng ý rằng cả hai đều hội đủ điều kiện như SEU’s và sở thích riêng của tôi sẽ được di chuyển về mức độ tiêu thụ năng lượng trước và sau đó ưu tiên từng cơ hội giải pháp mà giá trị tiết kiệm sẽ nhận được. Bởi vì khi thực hành tốt các giải pháp tiết kiệm năng lượng dựa trên quản lý nội vi và nâng cao nhận thức chúng ta đã có thể cải tiến liên tục hiệu suất năng lượng theo ISO 50001.